Hòa tan phụ gia cải thiện chỉ số độ nhớt vào dầu nhờn, nạp thẳng nguyên kiện polymer
Phụ gia cải thiện chỉ số độ nhớt (VI improver) là polymer, chiếm khoảng 10% dầu nhờn đa cấp. Khuấy thường mất nhiều giờ, dễ còn gel và làm dầu đổi màu. Hệ Silverson Disintegrator 2500 nhận thẳng polymer nguyên kiện, không cần băm nhỏ, và rút ngắn thời gian xử lý đáng kể.

- Hãng
- Silverson
Vấn đề thường gặp
Hòa tan mất nhiều giờ
Polymer dạng hạt hay viên mất nhiều giờ mới tan, vì cánh khuấy thường không cắt được hạt đủ nhỏ.
Dầu bị oxy hóa, đổi màu
Gia nhiệt kéo dài làm polymer phân hủy và dầu đổi màu, có khi phải phủ khí nitơ để chống oxy hóa. Hạt chưa tan tạo thành những cục gel nhỏ gọi là "mắt cá" (fish eyes), làm giảm chất lượng dầu.
Băm kiện polymer tốn kém
Kiện polymer rắn, nhất là loại dễ biến dạng, dính thành khối (cold flow), rất khó băm. Khâu băm tốn chi phí, nhân công và bảo trì, đồng thời sinh bụi và tiềm ẩn rủi ro an toàn.
Công nghệ
Disintegrator 2500 là hệ trọn bộ gồm bồn thiết kế riêng, máy khuấy đáy bồn có đầu cắt răng thô và máy trộn In-Line (lắp trên đường ống tuần hoàn của bồn). Đầu cắt phá kiện polymer thành hạt, sau đó máy In-Line cắt tiếp và tuần hoàn liên tục cho đến khi tan hoàn toàn.
- Cho thẳng kiện polymer với nhiều hình dạng, kích thước khác nhau; không cần băm hay nghiền trước.
- Thời gian xử lý giảm mạnh, thường không cần phủ nitơ.
- Khuấy mạnh trong bồn, hạt không kết dính lại hay bám thành bồn.
- Toàn bộ quy trình trong một bồn, ít bụi, sạch hơn.
Thiết bị - giải pháp
Bước 1
Bơm dầu gốc vào bồn, gia nhiệt, chạy máy khuấy đáy bồn rồi cho kiện polymer vào. Dòng xoáy trong bồn kéo polymer xuống đầu cắt răng thô, cắt dần cạnh và góc.
Bước 2
Khi polymer đã thành hạt, máy In-Line hút từ đáy bồn, cắt tiếp rồi đẩy về bồn; cả mẻ đi qua đầu khuấy hàng trăm lần.
Bước 3
Lấy mẫu kiểm tra độ tan trước khi xả mẻ.
Bước 4
Với polymer dạng hạt, viên: chỉ cần lắp thêm máy In-Line vào vòng tuần hoàn của bồn và cánh khuấy hiện có. Đội ngũ kỹ sư Hoa Ý hỗ trợ khảo sát và chọn cấu hình.
Kết quả
- ~10% tỷ lệ VI improver trong dầu nhờn đa cấp
- Nguyên kiện cho thẳng vào bồn, bỏ khâu băm nhỏ
- Hàng trăm lần cả mẻ tuần hoàn qua đầu khuấy
Polymer tan hoàn toàn trong thời gian ngắn hơn nhiều so với khuấy thường, giảm nguy cơ oxy hóa và đổi màu dầu, thường bỏ được khâu phủ nitơ. Không cần băm kiện nên bớt chi phí, nhân công và bụi. Đây là giải pháp ứng dụng do Silverson công bố, không phải case study của một khách hàng cụ thể.
Tài liệu đính kèm
Giải pháp khác
Xem tất cả
Phân tích TOC: Lab-Online-Data Integrity
Giám sát TOC cho hệ thống nước ngành dược từ phòng lab đến online
Theo dõi lượng chất hữu cơ còn trong nước (chỉ số TOC – tổng cacbon hữu cơ), để nước tinh khiết (PW) và nước pha tiêm (WFI) luôn đạt yêu cầu của dược điển (bộ tiêu chuẩn chất lượng thuốc chính thức) USP của Mỹ, EP của châu Âu và JP của Nhật. Tùy nhu cầu, nhà máy có ba cách đo: trong phòng lab, mang máy xách tay tới điểm lấy mẫu, hoặc gắn máy đo liên tục trên hệ thống nước (online).

Phân tích TOC: Lab-Online-Data Integrity
Thẩm định vệ sinh bằng TOC: chọn đo trong lab, at-line hay online
Nhà máy phải chứng minh quy trình vệ sinh loại bỏ được dư lượng xuống dưới giới hạn cho phép (thẩm định vệ sinh). Phân tích TOC (tổng cacbon hữu cơ) làm được việc này theo ba cách: trong phòng kiểm nghiệm (QC), ngay cạnh thiết bị (at-line), hoặc gắn thẳng lên hệ thống vệ sinh tại chỗ (CIP) để đo online.

Phân tích TOC: Lab-Online-Data Integrity
Chuyển đo độ dẫn điện Stage 1 từ máy đo để bàn sang Sievers M9 tự động
Nhiều phòng kiểm nghiệm (QC) vẫn đo độ dẫn điện của nước dược dụng (Stage 1 theo USP <645>, tức bước kiểm tra đầu tiên: đo độ dẫn chưa bù nhiệt rồi so với giới hạn tương ứng với nhiệt độ mẫu) bằng máy đo để bàn và đầu dò. Giải pháp này chuyển phép đo sang máy Sievers M9 tự động thông qua một nghiên cứu bắc cầu (bridge study), chứng minh kết quả tương đương, thậm chí tốt hơn.

